CÔNG KHAI DỮ LIỆU NGƯỜI KHÁC ĐỂ BÓC PHỐT CÓ THỂ BỊ PHẠT ĐẾN 25 TRIỆU ĐỒNG

Từ ngày 19/8/2026, Nghị định 330/2026/NĐ-CP của Chính phủ chính thức có hiệu lực, quy định nhiều mức xử phạt đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đáng chú ý, việc tự ý công khai dữ liệu cá nhân của người khác lên mạng xã hội khi chưa được đồng ý có thể bị xử phạt và buộc gỡ bỏ, thu hồi dữ liệu đã công khai.

Thứ nhất, tự ý công khai thông tin cá nhân của người khác có thể bị phạt đến 25 triệu đồng

Cùng với sự phát triển của mạng xã hội, việc đăng tải hình ảnh, số điện thoại, địa chỉ, thông tin tài khoản hoặc các dữ liệu khác của người khác để “bóc phốt”, gây sức ép hoặc kêu gọi cộng đồng chú ý đến một vụ việc ngày càng phổ biến.
Tuy nhiên, việc một người đang nắm giữ hoặc biết thông tin về người khác không đồng nghĩa với việc họ đương nhiên có quyền công khai những thông tin đó trên Internet.
Nghị định 330/2026/NĐ-CP đã dành riêng Điều 50 để quy định về hành vi công khai dữ liệu cá nhân. Cụ thể, tổ chức có hành vi công khai dữ liệu cá nhân gây xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể dữ liệu hoặc công khai khi chưa có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu, trừ trường hợp pháp luật cho phép, có thể bị phạt từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng.


Đối với cá nhân thực hiện cùng hành vi, mức phạt bằng một nửa mức phạt áp dụng đối với tổ chức, tương ứng từ 15 triệu đồng đến 25 triệu đồng.
Ngoài ra, trường hợp công khai dữ liệu cá nhân không có mục đích cụ thể, không thuộc trường hợp được phép công khai; công khai vượt quá phạm vi cần thiết hoặc thông tin công khai không đúng với dữ liệu từ nguồn gốc, tổ chức có thể bị phạt từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng, cá nhân bị phạt bằng một nửa.
Không chỉ dừng ở việc phạt tiền, người vi phạm còn có thể bị buộc gỡ bỏ, thu hồi dữ liệu cá nhân đã công khai.

Thứ hai, không thể mặc định “im lặng” là đồng ý

Một nội dung đáng chú ý khác của Nghị định 330/2026/NĐ-CP là quy định về sự đồng ý của chủ thể dữ liệu.
Theo Điều 43, tổ chức xử lý dữ liệu cá nhân sau khi thu thập nhưng chưa có sự đồng ý hợp lệ, hoặc sử dụng phương thức khiến người dùng mặc định đồng ý, có thể bị phạt từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng trong các trường hợp thuộc quy định.
Đặc biệt, trường hợp thu thập, xử lý dữ liệu cá nhân khi chủ thể dữ liệu im lặng hoặc không phản hồi trước yêu cầu xin đồng ý mà tự ý coi đó là sự đồng ý có thể bị phạt từ 50 triệu đồng đến 70 triệu đồng đối với tổ chức. Cá nhân thực hiện cùng hành vi bị phạt bằng một nửa.
Như vậy, về nguyên tắc, “không phản đối” không đồng nghĩa với “đồng ý”. Việc xử lý dữ liệu cần có căn cứ hợp pháp và sự đồng ý phải được xác định theo đúng quy định pháp luật.

Thứ ba, mua, bán trái phép dữ liệu cá nhân: Có thể bị phạt tới hàng tỷ đồng

Không chỉ hành vi công khai dữ liệu cá nhân, Nghị định 330/2026/NĐ-CP còn đặt ra chế tài nghiêm khắc đối với hoạt động mua, bán trái phép dữ liệu cá nhân.
Theo Điều 53, đối với một số hành vi mua, bán trái phép dữ liệu cá nhân nhằm thu lợi, mức phạt có thể được xác định từ 2 lần đến tối đa 10 lần khoản thu có được từ hành vi vi phạm.
Trong trường hợp không có khoản thu hoặc mức phạt tính theo khoản thu thấp hơn mức phạt được quy định, Nghị định đặt ra các mức phạt tương ứng dựa trên số lượng chủ thể dữ liệu và tính chất của dữ liệu bị mua bán.
Đáng chú ý, đối với hành vi mua, bán trái phép dữ liệu cá nhân xâm phạm quốc phòng, an ninh, trật tự, đối ngoại, kinh tế vĩ mô, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, tổ chức vi phạm có thể bị phạt từ 1 tỷ đồng đến 3 tỷ đồng. Cá nhân thực hiện hành vi bị phạt bằng một nửa.
Ngoài phạt tiền, người vi phạm còn có thể bị tịch thu tang vật, phương tiện; buộc hủy, xóa dữ liệu cá nhân đã mua, bán trái phép đến mức không thể khôi phục; đồng thời phải nộp lại khoản thu bất hợp pháp và thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.

Làm gì khi phát hiện dữ liệu cá nhân bị công khai trái phép?

Khi phát hiện hình ảnh, thông tin hoặc dữ liệu cá nhân của mình bị đăng tải trái phép trên mạng xã hội, người bị ảnh hưởng nên chủ động lưu giữ chứng cứ như ảnh chụp màn hình, đường link, thời gian đăng tải và nội dung bài viết.
Trong trường hợp cần ghi nhận khách quan sự kiện, hành vi đang xảy ra trên môi trường mạng, có thể liên hệ các Văn phòng Thi hành án dân sự để yêu cầu lập vi bằng theo quy định pháp luật. Vi bằng có thể được sử dụng làm nguồn chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình làm việc với cơ quan có thẩm quyền hoặc giải quyết tranh chấp.

Trên đây là những nội dung Luật Đoàn Gia chúng tôi chia sẻ. Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ.

Luật Đoàn Gia – Điểm sáng pháp luật.

Hotline: 0978762268/0989992524

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Hotline
icons8-exercise-96 challenges-icon chat-active-icon